Việc sử dụng, chia sẻ, in ấn, trích dẫn lại một phần hay toàn bộ các tài liệu này cần được nêu nguồn, và luôn luôn với mục đích phi lợi nhuận.
Tại Việt Nam, cơ sở dữ liệu chuyên sâu về đời sống, việc làm, sinh kế nói chung của người nữ đa dạng giới và tính dục tại Việt Nam vẫn còn chưa đầy đủ. Vì vậy, nghiên cứu Thách thức và nhu cầu kinh tế của phụ nữ LBTQ tại Việt Nam là một nỗ lực của Trung tâm ICS và Tổ chức IT’S T TIME nhằm bổ sung dữ liệu thực tiễn về điều kiện kinh tế, cơ hội sinh kế và các rào cản mà cộng đồng người có cơ thể nữ đa dạng giới và tính dục Việt Nam đang đối mặt. Nghiên cứu mở rộng phạm vi bao hàm cho cả nhóm chuyển giới nam nhằm phản ánh đầy đủ hơn các trải nghiệm kinh tế, sinh kế đa dạng từ những khách thể chưa được công nhận giới tính pháp lý.
Trước bối cảnh thị trường lao động và việc làm đang ngày một cạnh tranh hơn, thanh niên Việt Nam đang đối diện với nguy cơ thất nghiệp, không tìm được việc làm cao (năm 2024 đạt 7.38% nhóm từ 15 đến 24 tuổi). Bên cạnh những yếu tố ngoại cảnh như thị trường, bối cảnh kinh tế, xã hội, một trong những thách thức lớn mà thanh niên phải đối mặt liên quan đến khả năng nhận thức cá nhân, những hạn chế trong nguồn lực phát triển (mối quan hệ, người hướng hướng dẫn, tài chính,...). Đặc biệt, đối với sinh viên đa dạng giới và tính dục, những rào cản mà họ đối mặt còn liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử trong thị trường lao động. Dựa trên những quan sát này, nghiên cứu “Nguồn lực Tuyển dụng của sinh viên: Tiếp cận so sánh từ góc độ đa dạng giới (LGBTI+)” – áp dụng mô hình Vốn phát triển năng lực nghề nghiệp (Employability Capital Growth Model - ECGM) kết hợp với phỏng vấn sâu – nhằm phân tích cách các nguồn lực đa dạng giúp củng cố/hạn chế khả năng được tuyển dụng của sinh viên. Trong đó, mô hình này cũng cho phép diễn giải những trải nghiệm đặc thù của sinh viên LGBTI trong quá trình chuẩn bị bước vào thị trường lao động. Từ đó, đưa ra những khuyến nghị thực tiễn, hướng đến việc cải thiện môi trường việc làm và khả năng tuyển dụng cho tất cả sinh viên, bất kể giới và tính dục.
Cộng đồng người nữ đồng tính, song tính và chuyển giới (LBT) là một trong những cộng đồng dễ bị tổn thương và chịu nhiều bất bình đẳng chồng lấn vì vừa là người nữ, vừa là người đa dạng giới và tính dục. Tuy vậy, cộng đồng này cũng ít được chú ý hay nhắc tới trong các vấn đề sức khỏe, bạo lực gia đình, việc làm và cả trong các văn bản pháp lý, chính sách về sinh kế. Do đó, Cẩm nang làm việc, tiếp xúc và tiếp cận thông tin về phụ nữ và trẻ em gái đồng tính, song tính và chuyển giới (LBT) ra đời như một bộ hướng dẫn nhằm lưu ý một số vấn đề về tôn trọng danh xưng, quyền việc làm, kỹ năng bảo mật thông tin và tư vấn việc làm cho các bên liên quan khi làm việc với cộng đồng LBT.
Tờ thông tin Con Tôi Là LGBTI+? giúp giải đáp các lo lắng, hướng dẫn nhanh các cách sơ cứu tâm lý dành cho phụ huynh của người LGBTI+ và giới thiệu các nguồn thông tin đáng tin cậy, video chia sẻ của các phụ huynh khác. Bên cạnh đó, bất kỳ ai là người LGBTI+ hoặc là các nhà tư vấn, tham vấn, người thân, giáo viên, đồng nghiệp, của người LGBTI+ có thể sử dụng để chia sẻ và hỗ trợ các phụ huynh, người thân của người LGBTI+ khi cần thiết.
Trong bối cảnh người LGBTI+ tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần do kỳ thị, phân biệt đối xử và thiếu các dịch vụ hỗ trợ phù hợp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng công cụ đánh giá mức độ an toàn, thân thiện và dễ tiếp cận của các dịch vụ dành cho người LGBTI+. Đây là nỗ lực góp phần chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, hỗ trợ các cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời cung cấp cơ sở tham chiếu để cộng đồng lựa chọn dịch vụ phù hợp.
Báo cáo “Dưới một mái nhà” đi sâu vào tìm hiểu những mô hình gia đình “phi truyền thống”; cho thấy chung sống cùng giới tại Việt Nam không phải là hiện tượng bên lề hay tạm thời, mà đang trở thành một hình thức đời sống thân mật ngày càng ổn định và có ý nghĩa xã hội rõ nét. Nhiều cặp đôi cùng giới trên thực tế đã vận hành như những đơn vị gia đình, cùng chia sẻ trách nhiệm, chăm sóc và cam kết dài hạn theo những cách tương đồng với các cặp đôi dị tính hợp giới. Đồng thời, các vấn đề liên quan đến công nhận và bảo vệ pháp lý vẫn là những chủ đề cần tiếp tục được nghiên cứu và thảo luận chính sách trong thời gian tới. Báo cáo đưa ra các hàm ý tiếp cận chính sách ở ba cấp độ: 1) cấp độ pháp luật, 2) cấp độ chính sách và 3) cấp độ xã hội; với cách tiếp cận theo từng giai đoạn, ưu tiên xử lý các khoảng trống thực tiễn và những khó khăn trong đời sống thường nhật, đồng thời tạo không gian cho các thảo luận rộng hơn về quyền và công nhận quan hệ.
Báo cáo này tập trung phân tích thực trạng bạo lực tình dục và các hệ quả sức khỏe tâm thần đối với cộng đồng người vô tính (asexual) tại Việt Nam. Thông qua việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính, bao gồm khảo sát trực tuyến với 442 bản ghi hợp lệ và các cuộc phỏng vấn sâu, báo cáo đã ghi nhận những thực trạng bạo lực về mặt tình dục người Vô tính thường gặp phải do áp lực tình dục, rào cản từ định kiến xã hội đến sự thiếu hụt cơ chế hỗ trợ pháp lý và y tế. Kết quả cho thấy tỷ lệ báo động về rối loạn lo âu, trầm cảm và nguy cơ tự tử, từ đó nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về các chính sách bảo vệ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhạy cảm giới cho người Vô tính.